Công ty về công nghệ tại VN vẫn còn yếu về công nghệ

Một bài phân tích ‘sâu hơn’ hơn về vấn đề ‘Công ty công nghệ Việt Nam đang rất yếu về công nghệ’ của tác giả Anh-Minh Do trên TechInAsia.

Khi vừa cho đăng bài “Các công ty công nghệ tại Việt Nam đang rất yếu về công nghệ”, tôi có để ý rằng một số người đã khá “phật lòng” về bài viết này. Đa số họ cho rằng, bài viết của tôi không đủ độ sâu và thiếu chính xác. Lý do rất đơn giản là tôi không muốn chỉ đích danh những người trong giới mà mình tôn trọng. Tuy nhiên, nếu cộng đồng ngày càng có nhiều người muốn “ném đá”, thì có lẽ đã tới lúc chúng ta cần phải đào sâu vào vấn đề. Nhưng trước khi nói, tôi chỉ muốn nhắc lại rằng hiện vẫn có một vài startup vẫn đang đầu tư mạnh tay cho công nghệ. Và tôi cũng nghĩ rằng, khi nhìn vào một góc độ sâu hơn, nó chắc chắn sẽ mang lại rất nhiều lợi ích về sau, vì họ đã tạo ra được một nội lực vững chắc cũng như những sản phẩm trí tuệ không dễ có thể thay thế được. Thực sự mà nói, khi nhìn vào mặt bằng startup Việt hiện nay, những công ty có thể làm được điều này là vô cùng hiếm hoi. Và nếu chúng ta thử “bặm môi” so sánh những công nghệ mà Việt Nam sản xuất với những công nghệ sắp ra mắt tại Tel Aviv, San Francisco hay những nơi khác, sự chênh lệch sẽ còn rõ ràng hơn nữa.  Sau đây sẽ là danh sách của những yếu kém đang hiện hữu trong giới công nghệ Việt Nam. Nếu muốn bay xa hơn trong tương lai, và đạt được những ước mơ to lớn hơn, có lẽ đã tới lúc chúng ta cần nhìn sâu hơn vào những yếu kém của mình. Chúng ta cũng nên vượt qua cái tôi, sự hão danh, cái kiêu hùng hay cái văn hoá “ném đá” của mình để cùng đóng góp những ý kiến thật sự tích cực hơn, hay hơn và hữu ích hơn cho cộng đồng trong tương lai.  Chỉ ra được những điểm mạnh yếu cũng là một điều tất yếu như một phép toán cân bằng. Và đương nhiên, hầu hết tất cả những người trong nghề cũng đã quá hiểu những điều này:  Mục đích của các startup phần lớn vẫn là kiếm tiền, tiền đầu tư cũng dùng cho mục khách hơn là hoàn thiện sản phẩm, công nghệ

start-up

1. Startups thường tập trung nhiều   vào kinh doanh

Chính vì thế nên việc nghiên cứu và phát triển sẽ không được chú trọng – Việt Nam vẫn đang nằm trong giai đoạn đầu của startup cũng như đổi mới công nghệ, quá trình này lại được/bị dẫn đầu bởi những mô hình chú trọng vào việc kiếm tiền. Và đương nhiên, khi tập trung quá nhiều vào tiền, chúng ta không thể có đủ thời gian và nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển, hoặc thậm chí là phát triển sản phẩm. Có thể thấy rằng R&D là một việc quá nguy hiểm, khi mà chúng ta đang tìm mọi cách chỉ để thoả mãn mục đích kiếm tiền của mình.

2. Việc chuyển đổi từ outsourcing sang product là cực kì khó khăn.

Nếu chỉ nói riêng về các công ty công nghệ, những công ty lớn nằm trong hạng mục này thường sẽ làm về software outsourcing (giá trị của các công này thường có giá vài tỷ đô, những công ty như F-Soft kiếm được khoảng 100 triệu độ một năm). Đó có thể coi là một điểm đáng để tự hào cho Việt Nam vì đã dần dần phát triển thành một nơi gia công phần mềm đang được đánh giá cao ở Châu Á, với tiềm năng phát triển tốt cũng như giá thành phải chăng.

3. Ngay cả khi ngành software outsourcing chủ yếu vẫn là testing

– Và thậm chí, khi chúng ta nhìn sâu hơn vào outsourcing tại Việt Nam, hầu hết các công ty đang vẫn đang dẫn đầu về testing. Điều đó có nghĩa rằng, nó không đòi hỏi kỹ thuật đặc biệt sâu sắc. Về testing, bạn chỉ việc “ném” càng nhiều người vào test một vấn đề càng tốt, và sau đó dùng công nghệ để tối ưu hoá quá trình thử nghiệm.

4. Kỹ sư công nghệ thông tin chưa “chất”

Những trường đại học đào tạo kỹ sư công nghệ thông tin (CNTT) hàng đầu Việt Nam như Đại Học Bách Khoa, chỉ cho “ra lò” khoảng 300-400 kỹ sư CNTT mỗi năm. Những tân kỹ sư này lại chưa chắc đã có thể thực hành thông thạo các kỹ năng mà mình được đào tạo. Rất nhiều người trong số họ học những kỹ năng này từ chính công ty mà họ xin vào làm sau khi tốt nghiệp. Việc này chỉ ra được việc thiếu hụt nguồn lực cũng như thời gian cần thiết để các kỹ sư Việt có thể phát triển. Vì vậy rất khó để có thể tìm được các senior engineers và product managers.

5. Engineering có vẻ không phải là một công việc hấp dẫn cho lắm

– ở xã hội Việt Nam, các kỹ sư vẫn chưa nhận được sự tôn trọng mà họ đáng phải được nhận. Nước Việt Nam hiện đại có cái nhìn trân trọng hơn dành cho những doanh nghiệp, hoặc những người làm ở mảng kinh doanh. Những tác động này đã ảnh hưởng đến rất nhiều người đang làm engineering, và cả những mô hình kinh doanh đang muốn thuê kỹ sư để làm việc cho các dự án cộng nghệ trong công ty họ.

6. Ngành sản xuất chủ yếu chỉ cần các lao động phổ thông

– Khi tôi hỏi một lãnh đạo cấp cao tại Intel rằng liệu Vietnam có thể cho ra đời những gã khổng lồ ngang tầm với Xiaomi và Samsung hay không, câu trả lời là không. Lý do tại sao? Mặc dù Intel, Samsung, IBM, Nokia hay bất kỳ ai có đổ hàng tỷ đô vào ngành công nghệ điện tử của Việt Nam đi chăng nữa, thì đa phần tiền sẽ chảy về các toà nhà, nhà máy hay chi phí để mướn nhân công giá rẻ. Điều này cho thấy sự khan hiếm hoặc nói thẳng ra là không có cơ hội cho những vị trí quản lý cấp cao, như product manager, và technical managers để học những kỹ năng cần thiết để vận hành và điều phối một công ty phần cứng qui mô của họ.

7. Open source vẫn chưa được phổ biến tại Việt Nam

– Khi bạn yêu cầu một kỹ sư Việt Nam nào đó thực hiện cho bạn một dự án, thường thì họ sẽ xây dựng mọi thứ từ đầu. Hiện Open Source vẫn chưa được phổ biến rộng rãi tại Việt Nam. Điều này không có nghĩa là chúng ta sẽ đem hết những tinh hoa của mình cho cộng đồng, phần nhiều open source vẫn chưa thực hiện được vì họ sợ bị đánh cắp ý tưởng cũng như thành quả lao động của mình. Hơn nữa, mọi người vẫn chưa có thiện ý muốn thật sự tô vẽ và đóng góp cho cộng đồng công nghệ một mạnh hơn.  Ngay cả USB cũng nguy hiểm

startup

8. Lỗ hổng bảo mật

– Dù cho BKAV có cố cố gắng nói rằng họ đã giang tay cứu rỗi Việt Nam thoát khỏi thảm hoạ virus, tôi vẫn không thể quên được hình ảnh một người Việt Nam sợ USB còn hơn sợ bị cúm. Việt Nam bị xếp vào một trong những quốc gia dẫn đầu về virus. Tại sao điều này lại quan trọng ư? Có thể nói an ninh bảo mật là một khía cạnh công nghệ rất chuyên sâu. Không có gì phải ngạc nhiên khi founder của Whatsapp từng là một thành viên trong nhóm w00w00, một trong những chuyên gia hàng đầu về an ninh bảo mật dẫn đầu trên thế giới. Khi bạn đào sâu vào bảo mật, bạn đào sâu vào cách thức dữ liệu được quản lý, cách người dùng tương tác với công nghệ, và cả một bộ khung kiến trúc kết cấu phần mềm. Virus chỉ là một ví dụ rất nghèo nàn, vấn đề ở đây là có bao nhiêu doanh nghiệp và kỹ sư có thể “vật ngã” được vấn đề an ninh bảo mật một cách tinh tế nhất.

9. Nhìn sâu vào các mô hình thương mại điện tử

– Phần lớn những người có vấn đề với bài viết của tôi là đến từ ecommerce. Dù dự án ecommerce thành công nhất tại Việt Nam cũng cần đến những giải pháp công nghệ tối ưu, khi nhìn vào những thế hệ startup ecommerce mới, ta có thể thấy chúng đã trở nên đơn giản tới mức có thể dễ dàng bắt chước và thay thế được? Tại sao điều này lại xảy ra? Vì những bạn trẻ nghĩ rằng công nghệ có thể dễ dàng mô phỏng được. Khi nhìn vào công ty như Amazon, nó đã phát triển được thứ công nghệ riêng biệt, là một hạt nhân vững chắc giúp nó có thể nhảy vào những mảng mới như Kindle, AWS hay Amazon Prime services. Liệu các startup ecommerce ở Việt Nam có thể làm được điều này không? Họ đang giải quyết những vấn đề gì của công nghệ?

10. Tìm đâu ra một Aaron Swartz của Việt Nam?

– Trước khi sụp đổ, Aaron Swartz đã từng là một kỹ sư rất được tôn trọng, người luôn đi tiên phong trong những công nghệ như RSS, Creative Commons, và cả công ty Reddit. Liệu Việt Nam có được những kỹ sư tiên phong đạt trình độ tương tự? Đến khi nào chúng ta sẽ có được những kỹ sư có thể tạo ra những công nghệ mới mang tầm ảnh hưởng toàn cầu?

11. Không có nhiều nghiên cứu về IP và công nghệ

– Hệ thống giáo dục Việt Nam hiện đang có những vấn đề hóc búa của riêng mình, nhưng vấn đề chính nằm ở chỗ Việt Nam có quá ít những nghiên cứu về khoa học công nghệ. Cơ bản mà nói, Việt Nam nằm chót bảng so với các nước trong khu vực về những bài viết khoa học được xuất bản hàng năm. Điều này mang một ý nghĩa sâu sác đối với xã hội. DARPA và Stanford là những viên đã đầu tiên giúp hình thành Sillicon Valley, có thể kể đến Powerhouse. Những người như Larry Page và Jerry Yang đã bắt tay vào nghiên cứu sâu các công nghệ mũi nhọn của họ khi chỉ mới thành lập công ty. Nếu Việt Nam không thể sản sinh ra được những giáo sư và những sinh viên có thể đào sâu vào những nghiên cứu mang tầm quốc tế, thì liệu những công nghệ tuyệt vời sẽ không thể ra đời được không? Điều này lại phụ thuộc vào những công ty, và đương nhiên họ sẽ không bao giờ mạo hiểm hàng chục năm để chờ đợi một kết quả.  Tiền đầu tư nhận được đã phân phối hợp lí cho công nghệ?

heads

12. Phụ thuộc quá nhiều vào thị trường

– Khi họ có một dự án startup, phần lớn họ sẽ muốn tiền đầu từ cũng như funding đổ vào marketing. Họ nghĩ rằng sản phẩm của mình đã hoàn thiện và tiền sẽ được dùng như một bệ phóng để đưa sản phẩm của mình thị trường. Tuy nghiên đó là một tâm lý rất không tốt cho một startup. Sản phẩm phải luôn được đặt lên hàng đầu. Ví dụ tốt nhất trong trường hợp này chính là Whatsapp, họ đã có trong tay 500 triệu người dùng mà không cần bất kỳ các hình thức marketing nào cả. Tại sao startup Việt không làm được?

13. Chảy máu chất xám

– Và cuối cùng, Việt Nam hiện đang bị mất đi rất nhiều tài năng cho các công ty nước ngoài. Nếu bạn là một kỹ sư giỏi, chắc chắn rằng bạn sẽ không muốn chôn chân mình cho một công ty Việt Nam khi mà bạn có thể làm được nhiều ý tưởng to lớn hơn cho những công ty nước ngoài, đặc biệt là ở Sillicon Valley.

Thung Lũng silicon không ngại những giấc mơ lớn, nhưng các công ty Việt Nam có lẽ vẫn chưa sẵn sàng.  Tôi biết rằng chúng ta sẽ rất xấu hổ khi chỉ ra những điều này, nhưng đó là sự thật, chúng ta cần phải nhìn nhận lại về những điểm yếu của mình. Và có lẽ cũng cần phải nói rằng, Việt Nam hiện vẫn có khá nhiều điểm mạnh: Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu Đông Nam Á về số lượng kỹ sư, số lượng này còn tăng lên nhiều nhờ một thập kỷ đổi mới và outsourcing.

Hiện cũng có rất nhiều startup Việt đang chú trọng và nghiêm túc về công nghệ. Cần có nhiều người hơn nữa theo chân những ví dụ điển hình trên. Việt Nam có thể sẽ trở thành một trong những nhà tiên phong trên thế giới chỉ khi nào chúng ta có thể chỉ ra được những điểm yếu của mình và ngày một hoàn thiện nó hơn nữa.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *